“Xin chào, khách sạn Cá heo xin nghe!”, một giọng nói tươi tắn vang lên.
Đó là giọng một người phụ nữ trẻ. Một người phụ nữ sao? Chuyện gì thế nhỉ? Tôi không nhớ có người phụ nữ nào ở đó.
Vì không thể nào hiểu nổi nên tôi đành kiểm tra lại xem địa chỉ có đúng như trước không. Đúng rồi, nó chính xác là khách sạn Cá heo nơi tôi từng biết. Có lẽ khách sạn đã thuê người mới, cháu của chủ khách sạn hay ai đó.
Chuyện đó chẳng có gì kỳ quặc lắm. Tôi nói với cô ấy rằng tôi muốn đặt phòng trước.
“Cảm ơn ông rất nhiều”, cô gái thỏ thẻ, “xin ông chờ cho một chút để tôi chuyển máy sang bàn đặt phòng.”
Bàn đặt phòng? Giờ thì tôi thấy rối tinh rồi đấy. Không thể nào tiêu hóa nổi. Điều gì đã xảy ra với cái khách sạn cũ?
“Xin lỗi đã phiền quý khách phải chờ. Đây là bàn đăng ký đặt phòng. Tôi có thể giúp gì quý khách ạ?”. Lần này là giọng một thanh niên còn trẻ. Âm điệu sôi nổi và thân thiện của một anh chàng chuyên nghiệp làm cho khách sạn. Nỗi tò mò càng dâng cao hơn. Tôi yêu cầu một phòng đơn trong ba đêm. Đọc cho anh ta tên và số điện thoại ở Tokyo của mình.
“Ổn cả thưa quý khách. Vậy là ba đêm, kể từ ngày mai. Phòng đơn của quý khách đã sẵn sàng chờ.”
Tôi chẳng biết nên phản ứng thế nào nên đành phải cảm ơn cậu ta rồi gác máy, hoàn toàn mất phương hướng. Nhẽ ra tôi nên yêu cầu một lời giải thích phải không nhỉ? Rồi thì sự việc sẽ sáng tỏ một khi tôi đến đó. Cho dù thế nào tôi cũng không thể không tới. Tôi đâu còn phương án thay thế nào khác.
Tôi nhờ nhân viên chăm sóc khách hàng kiểm tra lịch trình tàu đến Sapporo. Sau đó gọi phục vụ phòng mang lên một chai whiskey cùng một ít đá, tiếp đó tôi thức khuya xem một bộ phim chiếu đêm muộn trên ti vi. Đó là một bộ phim phương tây của Clint Eastwood. Clint không cười lấy một lần, không cả nhếch mép. Tôi cố cười vào mặt anh ta nhưng anh ta không hề phá vỡ bộ mặt đông cứng của mình. Phim hết, bụng tôi cũng đầy rượu whiskey nên tôi tắt đèn và ngủ qua đêm. Nếu tôi có mơ thì tôi cũng chẳng nhớ. Tất cả những gì tôi có thể nhìn được ở phía ngoài khung cửa sổ của tàu tốc hành buổi sáng chỉ có tuyết. Đó là một ngày trong sáng, không một gợn mây nên nhìn nhiều sẽ đau mắt. Tôi không thấy hành khách nào ngoài mình nhìn ra ngoài cửa sổ. Tất cả họ đều biết tuyết trông ra sao.
Vì bỏ bữa sáng nên trước bữa trưa một lúc, tôi đi xuống xe bán đồ ăn. Bia và trứng ốp la. Ngay đối diện tôi là một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi đóng bộ trong vét và cà vạt đang ngồi uống bia và ăn sandwich thịt hun khói. Anh ta trông giống một thợ cơ khí và chỉ đơn giản đó chính là anh ta. Anh ta mở lời trước với tôi, kể với tôi rằng mình phục vụ cho máy bay của Không lực Tự vệ. Sau đó giải thích với tôi làm thế nào mà phi công chiến đấu và chiến sĩ đánh bomb của Sô-viết tràn vào không phận của nước ta dù trông có vẻ anh ta cũng chẳng phiền lòng lắm về chuyện đó. Anh ta lại tỏ ra quan tâm hơn đến tính kinh tế của chiếc F4 Phantoms. Tiêu tốn bao nhiêu là nhiên liệu trong một chuyến bay, thật quá lãng phí. “Nếu người Nhật mà sở hữu chứng thì anh có thể tin rằng chúng sẽ trở nên hiệu quả hơn. Và sẽ cũng chẳng bao giờ làm hỏng cuộc đổ bộ nào! Không có lý do nào mà chúng ta không thể chế tạo ra máy bay chiến đấu giá rẻ một khi ta đã muốn.”
Đó là khi tôi đưa ra lời đề nghị sắc sảo của mình, sự phung phí đó chính là cái giá cao nhất mà mỗi người có thể đạt tới trong một xã hội tư bản phát triển. Thực tế là Nhật Bản đã mua máy bay Phantom từ Mỹ và phung phí lượng lớn nhiên liệu vào các cuộc đổ bộ và đem lại thêm sự hoảng loạn cho nền kinh tế toàn cầu, và sự hoảng loạn ngày một tăng đó lại đẩy chủ nghĩa tư bản lên một tầm cao mới. Nếu anh mà chấm dứt chuỗi lãng phí đó thì cơn kích động hàng loạt đảm bảo sẽ diễn ra và nền kinh tế toàn cầu sẽ trở nên bất ổn. Phung phí là nhiên liệu cho sự bất ổn, và bất ổn khởi động nền kinh tế và một nền kinh tế năng động sẽ lại lãng phí nhiều hơn nữa.
Ừ thì, có thể là như vậy, anh chàng kỹ sư thừa nhận nhưng như thể một đứa bé sống trong hoàn cảnh bị cướp bóc đang trong thời chiến, anh ta không thể hiểu nổi cấu trúc xã hội mới có ý nghĩa thế nào. “Thế hệ chúng ta, chúng ta đâu có giống ông cha mình ngày xưa,” anh ta nói, kèm theo một nụ cười. “Chúng ta không thể hiểu nổi công việc rối rắm này của họ.”
Tôi thì không thể nói ra rằng mình cũng không hiểu mọi thứ thấu đáo nhưng tôi không háo hức muốn chuyện trò tiếp nữa nên lặng im. Không đúng, tôi không quen thuộc với sự ật, tôi chỉ nhận ra chúng như chúng vốn thế. Vốn dĩ có sự khác biệt rõ ràng giữa hai nhận định đó. Đó cũng chỉ là theo tôi nghĩ, tôi ăn xong phần ốp-lết và xin rời đi.
Tôi ngủ ba mươi phút, khoảng thời gian còn lại của hành trình tôi đọc tiểu sử của Jack London đã mua gần ga Hakodate.
So với cuộc đời lỗi lạc bay bổng và lãng mạn của Jack London thì sự tồn tại của tôi tựa như con sóc dựa đầu vào hạt óc chó, mơ màng cho tới mùa xuân. Lúc này thì chuyện là vậy đấy. Vậy nên đó mới là các cuốn tiểu sử. Ý tôi là, ai mà lại đi đọc về một đời sống an nhàn và quãng thời gian làm công của một kẻ không ai biết tới tại Thư viện thành phố Kawasaki chứ? Nói cách khác, điều mà chúng ta muốn kiếm tìm là cái có thể bồi đắp cho những gì chúng ta đang phải trải qua.
tôi sinh ra không có được niềm tin mãnh liệt, thứ duy nhất tôi có lại là sự hoài nghi
Hiển thị các bài đăng có nhãn dance. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dance. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Hai, 1 tháng 2, 2010
Thứ Tư, 27 tháng 1, 2010
Dance Dance Dance - Murakami Haruki (P8)
Tôi đặt taxi trong hai ngày và cùng anh thợ máy chạy vòng khắp Hakodate trong màn tuyết để tìm hiểu tụ điểm ăn uống trong thành phố. Tôi lại là người rất giỏi trong việc tìm kiếm một cách hệ thống và vô cùng hiệu quả. Điều quan trọng nhất khi làm loại công việc này là bạn phải nghiên cứu và sắp xếp lịch trước. Đó chính là bí quyết. Đối với việc thu thập tài liệu trước, một mình bạn không thể hiệu quả hơn những tổ chức đã biên soạn thông tin dành riêng cho những người trong ngành. Hãy trở thành thành viên và đóng tiền phí, họ sẽ giúp bạn tìm kiếm hầu như tất cả mọi thứ. Vì thế nếu bạn có đang tìm kiếm địa điểm ăn uống tại Hakodate, họ có thể điều tra ít nhiều. Với một hệ thống máy tính truy tìm cỡ lớn, họ sắp xếp các dữ liệu thành các định dạng tài liệu, in ra thành bản cứng và thậm chí còn chuyển hàng tận nhà luôn cho bạn. Cứ cho là giá cả sẽ không rẻ gì nhưng nhờ đó mà tiết kiếm được rất nhiều thời gian.
Ngoài cách đó ra, tôi cũng tự thu thập một chút thông tin. Có những phòng đọc chuyên cung cấp các tư liệu du lịch và thư viện tổng hợp báo chí địa phương cũng như ấn phẩm khu vực. Từ tất cả những nguồn này, tôi chọn ra những địa điểm hứa hẹn nhất, sau đó gọi cho họ để hỏi giờ làm việc. Hoàn thành được việc này cũng giúp tôi tránh được nhiều rắc rối khi đi thực địa. Kế đó tôi vẽ lại trong sổ tay của mình và lên kế hoạch các chặng đường hàng ngày. Tôi nhìn ngắm bản đồ và đánh dấu những chặng chúng tôi sẽ đi. Cố gắng giảm thiểu mọi thứ không cần thiết.
Khi vừa đặt chân tới Hakodate, anh thợ chụp hình và tôi tuần tự đi một vòng các nhà hàng. Có khoảng ba mươi cái. Chúng tôi ăn thử một chút – chỉ vừa đủ để nhận biết hương vị - và hờ hững bỏ lại phần lớn món ăn. Đó là những cái hay của sự tiêu thụ hàng hóa. Trong giai đoạn này chúng tôi vẫn đang ngụy trang nên chưa chụp được tấm hình nào cả. Chỉ sau khi kết thúc vòng đầu, tôi và anh chàng thợ ảnh mới thảo luận về thức ăn, đánh giá chúng trên thang điểm từ một đến mười. Nếu món anh đó đạt tiêu chuẩn thì nó sẽ được giữ tên trong danh sách, còn nếu không thì bị loại ngay. Thông thường chúng tôi đánh rớt ít nhất một nửa số đó. Sau khi đã khoanh vùng, cả hai còn kiểm tra báo địa phương để xem còn thiếu sót nơi nào hay không, chọn ra khoảng năm nơi. Chúng tôi cũng đến những nơi này và loại đi những địa điểm không-thật-ngon. Và rồi chúng tôi đã có những ứng viên trong vòng chung kết. Tôi gọi tới những chỗ đó và báo tên tạp chí, thông báo với họ rằng chúng tôi mong muốn được viết một bài về họ và chụp cả hình nữa. Tất cả diễn ra vẻn vẹn trong hai ngày. Ban đêm, tôi ở tại khách sạn của mình và ghi ra một bản phác thảo.
Trong ngày tiếp theo, khi chàng thợ ảnh chụp nhanh vài tấm về món ăn và cách bày biện bàn ăn thì tôi nói chuyện với chủ nhà hàng. Để tiết kiệm thời gian mà. Vậy nên chúng tôi đã xong xuôi trong ba ngày. Thực tế cũng có những người trong ngành làm còn hoàn thành nhanh hơn chúng tôi. Nhưng họ chẳng hề nghiên cứu chút nào. Họ chỉ làm về những địa điểm vốn đã nổi tiếng và sẵn có, những chuyến du ngoạn trên biển mà không cần phải ăn thử gì, chỉ viết những nhận định vắn tắt. Đó là kiểu làm ăn của họ, tôi thì không. Nếu thực sự thẳng thắn mà nói thì tôi ngờ rằng không có nhiều tay viết chịu đựng nổi những gì mà tôi phải trải qua khi viết phóng sự. Đó là loại công việc có thể khiến bạn suy sụp nếu bạn không thật sự nghiêm túc hoặc giả bạn có thể sống vô tư lự mà không làm gì cả. Điều tệ hại nhất là cho dù bạn có thành tâm hay hờ hững thì thành quả sau cùng cũng chẳng khác nhau là mấy. Ở vẻ bề ngoài. Chỉ ở một vài điểm hơn hẳn khiến bạn nhận ra dấu vết của sự khác biệt.
Không phải vì lòng tự trọng mà tôi phải giải thích điều này hay gì cả.
Tôi chỉ muốn bạn có ý tưởng căn bản về nghề này, cũng như hiểu được những gì tôi phải đối mặt.
Vào đêm thứ ba, tôi đã viết xong. Cả ngày thứ tư còn lại được để trống để phòng trường hợp có chuyện. Nhưng vì công việc đã hoàn thành và chúng tôi cũng chẳng có việc gì nữa nên đã thuê một chiếc ô tô, xuất phát cho một ngày trượt tuyết việt dã. Đêm đó, cả hai chúng tôi đều yên vị mà thưởng thức đồ uống bên cạnh nồi lẩu ngon tuyệt đang sôi ùng ục. Một ngày thỏa thuê nghỉ ngơi. Tôi đưa bản thảo cho anh chàng chụp ảnh. Vậy đấy, công việc của tôi thế là xong, giờ thì sản phẩm đã trong tay người khác.
Nhưng trước khi giao bản thảo vào tối đó, tôi gọi cho phòng trợ giúp thành phố Sapporo để hỏi số điện thoại của khách sạn Cá heo. Tôi không phải chờ lâu. Tôi ngồi đó trên giường và thở dài. Chà, vậy ra ít nhất khách sạn Cá heo cũng không biến mất. Chắc là may mắn. Vì tôi cũng sẽ không ngạc nhiên nếu một nơi kỳ bí như nó mà biến mất. Tôi hít một hơi thật sâu rồi bấm số điện thoại – ngay lập tức có người trả lời. Như thể họ chỉ ngồi chờ chuông điện thoại reo lên. Bất chợt, tôi lại thấy mình ngập ngừng.
Ngoài cách đó ra, tôi cũng tự thu thập một chút thông tin. Có những phòng đọc chuyên cung cấp các tư liệu du lịch và thư viện tổng hợp báo chí địa phương cũng như ấn phẩm khu vực. Từ tất cả những nguồn này, tôi chọn ra những địa điểm hứa hẹn nhất, sau đó gọi cho họ để hỏi giờ làm việc. Hoàn thành được việc này cũng giúp tôi tránh được nhiều rắc rối khi đi thực địa. Kế đó tôi vẽ lại trong sổ tay của mình và lên kế hoạch các chặng đường hàng ngày. Tôi nhìn ngắm bản đồ và đánh dấu những chặng chúng tôi sẽ đi. Cố gắng giảm thiểu mọi thứ không cần thiết.
Khi vừa đặt chân tới Hakodate, anh thợ chụp hình và tôi tuần tự đi một vòng các nhà hàng. Có khoảng ba mươi cái. Chúng tôi ăn thử một chút – chỉ vừa đủ để nhận biết hương vị - và hờ hững bỏ lại phần lớn món ăn. Đó là những cái hay của sự tiêu thụ hàng hóa. Trong giai đoạn này chúng tôi vẫn đang ngụy trang nên chưa chụp được tấm hình nào cả. Chỉ sau khi kết thúc vòng đầu, tôi và anh chàng thợ ảnh mới thảo luận về thức ăn, đánh giá chúng trên thang điểm từ một đến mười. Nếu món anh đó đạt tiêu chuẩn thì nó sẽ được giữ tên trong danh sách, còn nếu không thì bị loại ngay. Thông thường chúng tôi đánh rớt ít nhất một nửa số đó. Sau khi đã khoanh vùng, cả hai còn kiểm tra báo địa phương để xem còn thiếu sót nơi nào hay không, chọn ra khoảng năm nơi. Chúng tôi cũng đến những nơi này và loại đi những địa điểm không-thật-ngon. Và rồi chúng tôi đã có những ứng viên trong vòng chung kết. Tôi gọi tới những chỗ đó và báo tên tạp chí, thông báo với họ rằng chúng tôi mong muốn được viết một bài về họ và chụp cả hình nữa. Tất cả diễn ra vẻn vẹn trong hai ngày. Ban đêm, tôi ở tại khách sạn của mình và ghi ra một bản phác thảo.
Trong ngày tiếp theo, khi chàng thợ ảnh chụp nhanh vài tấm về món ăn và cách bày biện bàn ăn thì tôi nói chuyện với chủ nhà hàng. Để tiết kiệm thời gian mà. Vậy nên chúng tôi đã xong xuôi trong ba ngày. Thực tế cũng có những người trong ngành làm còn hoàn thành nhanh hơn chúng tôi. Nhưng họ chẳng hề nghiên cứu chút nào. Họ chỉ làm về những địa điểm vốn đã nổi tiếng và sẵn có, những chuyến du ngoạn trên biển mà không cần phải ăn thử gì, chỉ viết những nhận định vắn tắt. Đó là kiểu làm ăn của họ, tôi thì không. Nếu thực sự thẳng thắn mà nói thì tôi ngờ rằng không có nhiều tay viết chịu đựng nổi những gì mà tôi phải trải qua khi viết phóng sự. Đó là loại công việc có thể khiến bạn suy sụp nếu bạn không thật sự nghiêm túc hoặc giả bạn có thể sống vô tư lự mà không làm gì cả. Điều tệ hại nhất là cho dù bạn có thành tâm hay hờ hững thì thành quả sau cùng cũng chẳng khác nhau là mấy. Ở vẻ bề ngoài. Chỉ ở một vài điểm hơn hẳn khiến bạn nhận ra dấu vết của sự khác biệt.
Không phải vì lòng tự trọng mà tôi phải giải thích điều này hay gì cả.
Tôi chỉ muốn bạn có ý tưởng căn bản về nghề này, cũng như hiểu được những gì tôi phải đối mặt.
Vào đêm thứ ba, tôi đã viết xong. Cả ngày thứ tư còn lại được để trống để phòng trường hợp có chuyện. Nhưng vì công việc đã hoàn thành và chúng tôi cũng chẳng có việc gì nữa nên đã thuê một chiếc ô tô, xuất phát cho một ngày trượt tuyết việt dã. Đêm đó, cả hai chúng tôi đều yên vị mà thưởng thức đồ uống bên cạnh nồi lẩu ngon tuyệt đang sôi ùng ục. Một ngày thỏa thuê nghỉ ngơi. Tôi đưa bản thảo cho anh chàng chụp ảnh. Vậy đấy, công việc của tôi thế là xong, giờ thì sản phẩm đã trong tay người khác.
Nhưng trước khi giao bản thảo vào tối đó, tôi gọi cho phòng trợ giúp thành phố Sapporo để hỏi số điện thoại của khách sạn Cá heo. Tôi không phải chờ lâu. Tôi ngồi đó trên giường và thở dài. Chà, vậy ra ít nhất khách sạn Cá heo cũng không biến mất. Chắc là may mắn. Vì tôi cũng sẽ không ngạc nhiên nếu một nơi kỳ bí như nó mà biến mất. Tôi hít một hơi thật sâu rồi bấm số điện thoại – ngay lập tức có người trả lời. Như thể họ chỉ ngồi chờ chuông điện thoại reo lên. Bất chợt, tôi lại thấy mình ngập ngừng.
Dance Dance Dance - Murakami Haruki (P7)
Mối tình sâu đậm nhất mà tôi có là với người phụ nữ làm cho công ty điện thoại. Tôi gặp nàng vào bữa tiệc mừng năm mới. Cả hai chúng tôi khi ấy đều chếnh choáng, trêu đùa lẫn nhau, rồi thì thích nhau và hạ màn ở căn hộ của tôi. Nàng là người có đầu óc và sở hữu một cặp chân tuyệt vời. Chúng tôi đã đi dạo một vòng trên chiếc Subaru mới cứng của tôi. Nàng gọi cho tôi mỗi khi tâm trạng không dễ chịu và đến ngủ qua đêm. Nàng cũng là người duy nhất mà tôi giữ quan hệ kiểu nửa vời như vậy. Mặc dù cả hai chúng tôi đều biết rằng tình cảm này chẳng đi đến đâu nhưng chúng tôi vẫn yên lặng sẻ chia với nhau, tựa như mối ân xá giữa cuộc đời này. Lần đầu tiên sau ngần ấy năm trời, tôi mới biết thế nào là những ngày an lành. Chúng tôi trao nhau bao dịu dàng, thủ thỉ chuyện trò. Tôi nấu cho nàng, tặng nàng những món quà sinh nhật. Chúng tôi đến các câu lạc bộ jazz và uống cốc-tai. Chẳng bao giờ chúng tôi cãi cọ, chưa một lần nào. Tựa như cả hai biết đích xác những gì đối phương mong muốn. Cho dù vậy, chuyện tình kết thúc. Vào một ngày, nó kết thúc, như thể bộ phim chỉ đơn giản là tuột khỏi guồng quay.
Sự ra đi của nàng chẳng ngờ lại mang tới cho tôi nỗi trống trải hơn tôi tưởng. Một đoạn thời gian sau đó, tôi lại khép mình trong phòng lần nữa. Vấn đề là tôi đã không muốn có nàng, thật tâm mong muốn. Tôi thích nàng, thích được ở bên nàng. Nàng mang lại cho tôi những xúc cảm êm dịu. Nhưng sau cùng thì tôi vẫn chưa từng cảm thấy nỗi mong mỏi với nàng. Chỉ sau ba ngày kể từ khi nàng bước ra khỏi đời tôi, tôi mới chợt nhận ra. Tới phút cuối, toàn bộ khoảng thời gian bên cạnh nàng, tôi như người sống trên mây. Suốt những giây phút cảm nhận cặp nhũ hoa của nàng áp sát tôi, tôi thật sự lại ước ao một điều gì khác.
Phải mất bốn năm tôi mới ổn định được cuộc sống của mình. Một cách cẩn trọng, tôi nhanh nhẹn giải quyết hết lượng công việc đến tay mình, và mọi người cảm thấy có thể tin tưởng được nơi tôi. Không nhiều lắm nhưng một vài người trong số họ thậm chí tỏ ra thân thiện. Vậy mà mặc dù không thốt nên lời, có điều gì đó vẫn còn mất mát. Chưa đủ vẹn toàn. Giờ đây khi tôi dành trọn thời gian cố gắng đạt được tốc độ nhanh nhất thì tôi lại quay lại điểm khởi đầu.
Thôi được rồi, tôi nghĩ, ở tuổi ba mươi tư, bắt đầu lại từ đầu. Bạn sẽ phải làm thế sao?
Tôi thì không cần phải suy nghĩ nhiều về chuyện đó. Tôi đã biết rõ. Đáp án cứ trôi nổi trên đầu tôi như một đám mây đen kịt dầy đặc. Tất cả những gì tôi phải làm là hành động ngay, thay vì cứ hoãn đi hoãn lại. Tôi phải tới khách sạn Cá heo. Đó là nơi tất cả mọi chuyện bắt đầu. Tôi cũng phải tìm ra nàng. Người phụ nữ đầu tiên dẫn tôi tới khách sạn Cá heo, cũng chính nàng là ả gái gọi cao cấp trong thế giới bí ẩn về đêm của mình. (Trong tình huống thật bất ngờ, tôi lại được biết tên của người phụ nữ vô danh này sau đó, nhưng vì một vài lý do để cho tiện dụng thì nó lại có phần trái với lẽ thường. Tôi sẽ nói ngay cho các bạn đây. Xin phép nhé, đó là Kiki). Phải rồi, Kiki nắm giữ chìa khóa vấn đề. Tôi phải gọi cô ấy trở về với mình. Về với cuộc sống bên tôi, điều mà cô ấy bỏ lại với ý định không hề quay lại. Điều này liệu có khả thi? Ai mà biết được nhưng tôi cứ phải thử đã. Từ đây một vòng quay mới bắt đầu.
Tôi gói ghém túi của mình, gấp rút gấp đôi để hoàn thành phần việc còn tồn đọng và sau đó hủy bỏ tất cả các công việc mà tôi đã ký trong tháng tới. Tôi nói rằng mình phải rời Tokyo vì chuyện gia đình. Hai biên tập viên kêu ca nhưng họ còn có thể làm gì? Tôi chưa từng khiến họ thất vọng trước đó, thêm nữa, tôi cũng đã nhắc nhở họ trước rất nhiều lần là cần tìm cách thức và phương tiện khác đi. Sau cùng, mọi chuyện đều ổn thỏa. Tôi thông báo với họ rằng mình sẽ về trong vòng một tháng.
Sau đó tôi lên chuyến bay tới Hokkaido. Đó là vào đầu tháng ba năm 1983.
Tất nhiên việc gia đình đã không hề kết thúc trong vòng một tháng.
Sự ra đi của nàng chẳng ngờ lại mang tới cho tôi nỗi trống trải hơn tôi tưởng. Một đoạn thời gian sau đó, tôi lại khép mình trong phòng lần nữa. Vấn đề là tôi đã không muốn có nàng, thật tâm mong muốn. Tôi thích nàng, thích được ở bên nàng. Nàng mang lại cho tôi những xúc cảm êm dịu. Nhưng sau cùng thì tôi vẫn chưa từng cảm thấy nỗi mong mỏi với nàng. Chỉ sau ba ngày kể từ khi nàng bước ra khỏi đời tôi, tôi mới chợt nhận ra. Tới phút cuối, toàn bộ khoảng thời gian bên cạnh nàng, tôi như người sống trên mây. Suốt những giây phút cảm nhận cặp nhũ hoa của nàng áp sát tôi, tôi thật sự lại ước ao một điều gì khác.
Phải mất bốn năm tôi mới ổn định được cuộc sống của mình. Một cách cẩn trọng, tôi nhanh nhẹn giải quyết hết lượng công việc đến tay mình, và mọi người cảm thấy có thể tin tưởng được nơi tôi. Không nhiều lắm nhưng một vài người trong số họ thậm chí tỏ ra thân thiện. Vậy mà mặc dù không thốt nên lời, có điều gì đó vẫn còn mất mát. Chưa đủ vẹn toàn. Giờ đây khi tôi dành trọn thời gian cố gắng đạt được tốc độ nhanh nhất thì tôi lại quay lại điểm khởi đầu.
Thôi được rồi, tôi nghĩ, ở tuổi ba mươi tư, bắt đầu lại từ đầu. Bạn sẽ phải làm thế sao?
Tôi thì không cần phải suy nghĩ nhiều về chuyện đó. Tôi đã biết rõ. Đáp án cứ trôi nổi trên đầu tôi như một đám mây đen kịt dầy đặc. Tất cả những gì tôi phải làm là hành động ngay, thay vì cứ hoãn đi hoãn lại. Tôi phải tới khách sạn Cá heo. Đó là nơi tất cả mọi chuyện bắt đầu. Tôi cũng phải tìm ra nàng. Người phụ nữ đầu tiên dẫn tôi tới khách sạn Cá heo, cũng chính nàng là ả gái gọi cao cấp trong thế giới bí ẩn về đêm của mình. (Trong tình huống thật bất ngờ, tôi lại được biết tên của người phụ nữ vô danh này sau đó, nhưng vì một vài lý do để cho tiện dụng thì nó lại có phần trái với lẽ thường. Tôi sẽ nói ngay cho các bạn đây. Xin phép nhé, đó là Kiki). Phải rồi, Kiki nắm giữ chìa khóa vấn đề. Tôi phải gọi cô ấy trở về với mình. Về với cuộc sống bên tôi, điều mà cô ấy bỏ lại với ý định không hề quay lại. Điều này liệu có khả thi? Ai mà biết được nhưng tôi cứ phải thử đã. Từ đây một vòng quay mới bắt đầu.
Tôi gói ghém túi của mình, gấp rút gấp đôi để hoàn thành phần việc còn tồn đọng và sau đó hủy bỏ tất cả các công việc mà tôi đã ký trong tháng tới. Tôi nói rằng mình phải rời Tokyo vì chuyện gia đình. Hai biên tập viên kêu ca nhưng họ còn có thể làm gì? Tôi chưa từng khiến họ thất vọng trước đó, thêm nữa, tôi cũng đã nhắc nhở họ trước rất nhiều lần là cần tìm cách thức và phương tiện khác đi. Sau cùng, mọi chuyện đều ổn thỏa. Tôi thông báo với họ rằng mình sẽ về trong vòng một tháng.
Sau đó tôi lên chuyến bay tới Hokkaido. Đó là vào đầu tháng ba năm 1983.
Tất nhiên việc gia đình đã không hề kết thúc trong vòng một tháng.
Thứ Hai, 25 tháng 1, 2010
Dance Dance Dance - Murakami Haruki (P6)
Nguyên do rất đơn giản. Tôi chẳng bao giờ kén chọn công việc mà mình làm. Tôi sẵn lòng làm bất cứ việc gì, luôn hoàn thành đúng hạn, không bao giờ than phiền và viết rất dễ hiểu. Thêm nữa tôi còn chu đáo. Trong khi những người khác tỏ ra uể oải thì tôi luôn là một tay viết thành tâm. Tôi không bao giờ làm ăn giả dối cho dù công việc có được trả thấp. Nếu có nhận cuộc gọi vào hai rưỡi sáng sớm yêu cầu hai mươi trang bản thảo vào sáu giờ sáng ( vể đủ mọi chuyện như ích lợi của việc dùng đồng hồ cơ hay vẻ ngoài của phụ nữ độ tuổi bốn mươi hoặc danh thắng đẹp nhất ở Helsinki nơi mà cũng chẳng chần phải nói tới làm gì vì tôi đã bao giờ đến đâu). Tôi hoàn thành chúng vào lúc năm rưỡi. Và nếu bị yêu cầu viết lại, tôi sẽ nộp vào lúc sáu giờ. Chắc bạn nghĩ tôi có danh tiếng tốt.
Việc xúc tuyết cũng không có gì khác cả.
Cứ để tuyết rơi và tôi sẽ chỉ cho bạn một hoặc hai con đường công danh nhanh nhất.
Không đề cập một chút gì đến tham vọng hay sự mong chờ. Mối quan tâm của tôi chỉ dừng lại ở chỗ làm sao làm việc một cách hệ thống, tuần tự hết thứ này đến thứ khác. Thảng hoặc tôi tự hỏi liệu đó có phải nỗi bất hạnh đời tôi không. Sau khi đã tự mình tốn quá nhiều bút mực vào vấn đề này thì liệu tôi có thể than phiền về chuyện phí hoài với ai đây? Rốt cuộc thì chúng ta đang sống trong một xã hội tư bản hiện đại. Phí hoài chính là tên một trò chơi, đức tính vĩ đại nhất. Các nhà chính khách gọi nó là “cái hay của tiêu thụ hàng nội địa”. Còn tôi thì gọi đó là sự phung phí vô nghĩa lý. Quả là hai quan điểm khác biệt. Nhưng lại chẳng thay đổi cách chúng ta vẫn sống. Nếu tôi chẳng thích nó thì tôi có thể chuyển tới Bangladesh hay Sudan. Tôi lại là người không thấy hứng khởi lắm nếu sống ở Bangladesh hay Sudan.
Vậy nên tôi cứ tiếp tục làm việc.
Chẳng bao lâu sau công việc không đơn thuần là PR sản phẩm. Tôi còn được đề nghị viết một vài thứ cho tạp chí thường kỳ. Vì lý do nào đó mà hầu hết là của các tạp chí phụ nữ. Tôi bắt đầu tiến hành phỏng vấn, chạy tới chạy lui để làm những bài phóng sự nhỏ. Tuy nhiên công việc này thực chất cũng không phải một bước tiến vượt bậc so với việc viết thư quảng cáo lắm.
Vì tính chất của những tạp chí này mà hầu hết những người tôi gặp để phỏng vấn đều làm trong ngành giải trí. Cho dù bạn có hỏi thế nào thì họ cũng chỉ trả lời một cách rập khuôn. Bạn có thể dự đoán trước câu trả lời trước cả khi câu hỏi được đặt ra. Trường hợp tệ nhất là người được phỏng vấn thiết tha yêu cầu được đọc trước câu hỏi. Bởi vậy tôi luôn viết tất cả mọi thứ ra và mang theo. Một lần tôi có dịp hỏi một cô ca sĩ mười bảy tuổi một câu mà không nằm trong danh sách câu hỏi có sẵn, quản lý của cô ta liền xen vào: “Đó không phải những gì chúng ta đã thỏa thuận trước – Cô ấy không phải trả lời câu đó”. Thật là thú vị. Tôi chỉ phân vân cô ấy có lẽ còn không thể trả lời được tháng nào tiếp sau tháng mười mà không có quản lý của mình bên cạnh. Dù vậy tôi vẫn làm hết sức mình. Trước mỗi cuộc phỏng vấn tôi đều chuẩn bị, khảo sát các nguồn có sẵn, cố nghĩ ra những câu hỏi chưa ai từng hỏi. Khó khăn lắm tôi mới dựng được một bài báo. Không phải những nỗ lực của tôi được nhận được sự đánh giá đặc biệt gì. Chúng chưa bao giờ mang lại cho tôi một lời khích lệ nào. Có điều tôi đi thêm một bước nữa vì đối với tôi đó là cách đơn giản nhất. Rèn luyện bản thân. Để có thể cho những ngón tay và khối óc lâu ngày không dùng tới một lượng công việc quá tải mà vô hại.
Phục hồi về mặt xã hội.
Mỗi ngày của tôi trôi qua sau đó càng bận rộn hơn bao giờ hết. Không những chỉ gấp hai, ba lần khối lượng công việc bình thường mà hàng loạt công việc cứ ồ ạt đến. Không một sai sót, việc cứ tìm đường tới tay tôi. Vai trò của tôi trong guồng máy như bãi phế liệu nằm ở rìa thị trấn. Không gì, đặc biệt là những thứ phức tạp hay nỗi thống khổ gan lì mà không bị tôi quẳng đi. Nhờ vậy mà tài khoản tiết kiệm của tôi đã tăng lên những con số mà trước đó chưa từng có, dù tôi thật sự quá bận rộn chẳng có thời gian mà tiêu tiền. Bởi vậy khi một gã quen đề nghị với tôi một hợp đồng béo bở, tôi liền tống khứ cái xe không mang lại gì ngoài cơn đau đầu của mình và mua một chiếc Subaru Leone một năm tuổi về. Chưa từng được lái, lại cón dàn âm thanh nổi và điều hòa không khí. Một chiếc ngon thật sự đầu tiên dành cho tôi. Và tôi chuyển tới căn hộ ở Shibuya, gần thành phố hơn. Ở đây hơi ồn một chút – đường cao tốc chạy ngang qua ngay bên phải cửa sổ phòng tôi – nhưng rồi thì bạn sẽ quen hết.
Tôi ngủ với một vài người phụ nữ gặp gỡ qua công việc.
Phục hồi về mặt xã hội là thế. Tôi có một linh cảm về những người phụ nữ mà mình nên ngủ cùng. Và những người phụ nữ mình có thể ngủ cùng, những người không. Thậm chí có thể là khi tôi không nên ngủ cùng họ. Đó là sự tinh thông đến cùng với tuổi già. Tôi còn biết khi nào nên bỏ cuộc để mọi thứ thật dễ chịu, dễ dàng để không ai bị tổn thương. Chỉ thiếu đi mất xúc cảm sâu sắc của trái tim.
Việc xúc tuyết cũng không có gì khác cả.
Cứ để tuyết rơi và tôi sẽ chỉ cho bạn một hoặc hai con đường công danh nhanh nhất.
Không đề cập một chút gì đến tham vọng hay sự mong chờ. Mối quan tâm của tôi chỉ dừng lại ở chỗ làm sao làm việc một cách hệ thống, tuần tự hết thứ này đến thứ khác. Thảng hoặc tôi tự hỏi liệu đó có phải nỗi bất hạnh đời tôi không. Sau khi đã tự mình tốn quá nhiều bút mực vào vấn đề này thì liệu tôi có thể than phiền về chuyện phí hoài với ai đây? Rốt cuộc thì chúng ta đang sống trong một xã hội tư bản hiện đại. Phí hoài chính là tên một trò chơi, đức tính vĩ đại nhất. Các nhà chính khách gọi nó là “cái hay của tiêu thụ hàng nội địa”. Còn tôi thì gọi đó là sự phung phí vô nghĩa lý. Quả là hai quan điểm khác biệt. Nhưng lại chẳng thay đổi cách chúng ta vẫn sống. Nếu tôi chẳng thích nó thì tôi có thể chuyển tới Bangladesh hay Sudan. Tôi lại là người không thấy hứng khởi lắm nếu sống ở Bangladesh hay Sudan.
Vậy nên tôi cứ tiếp tục làm việc.
Chẳng bao lâu sau công việc không đơn thuần là PR sản phẩm. Tôi còn được đề nghị viết một vài thứ cho tạp chí thường kỳ. Vì lý do nào đó mà hầu hết là của các tạp chí phụ nữ. Tôi bắt đầu tiến hành phỏng vấn, chạy tới chạy lui để làm những bài phóng sự nhỏ. Tuy nhiên công việc này thực chất cũng không phải một bước tiến vượt bậc so với việc viết thư quảng cáo lắm.
Vì tính chất của những tạp chí này mà hầu hết những người tôi gặp để phỏng vấn đều làm trong ngành giải trí. Cho dù bạn có hỏi thế nào thì họ cũng chỉ trả lời một cách rập khuôn. Bạn có thể dự đoán trước câu trả lời trước cả khi câu hỏi được đặt ra. Trường hợp tệ nhất là người được phỏng vấn thiết tha yêu cầu được đọc trước câu hỏi. Bởi vậy tôi luôn viết tất cả mọi thứ ra và mang theo. Một lần tôi có dịp hỏi một cô ca sĩ mười bảy tuổi một câu mà không nằm trong danh sách câu hỏi có sẵn, quản lý của cô ta liền xen vào: “Đó không phải những gì chúng ta đã thỏa thuận trước – Cô ấy không phải trả lời câu đó”. Thật là thú vị. Tôi chỉ phân vân cô ấy có lẽ còn không thể trả lời được tháng nào tiếp sau tháng mười mà không có quản lý của mình bên cạnh. Dù vậy tôi vẫn làm hết sức mình. Trước mỗi cuộc phỏng vấn tôi đều chuẩn bị, khảo sát các nguồn có sẵn, cố nghĩ ra những câu hỏi chưa ai từng hỏi. Khó khăn lắm tôi mới dựng được một bài báo. Không phải những nỗ lực của tôi được nhận được sự đánh giá đặc biệt gì. Chúng chưa bao giờ mang lại cho tôi một lời khích lệ nào. Có điều tôi đi thêm một bước nữa vì đối với tôi đó là cách đơn giản nhất. Rèn luyện bản thân. Để có thể cho những ngón tay và khối óc lâu ngày không dùng tới một lượng công việc quá tải mà vô hại.
Phục hồi về mặt xã hội.
Mỗi ngày của tôi trôi qua sau đó càng bận rộn hơn bao giờ hết. Không những chỉ gấp hai, ba lần khối lượng công việc bình thường mà hàng loạt công việc cứ ồ ạt đến. Không một sai sót, việc cứ tìm đường tới tay tôi. Vai trò của tôi trong guồng máy như bãi phế liệu nằm ở rìa thị trấn. Không gì, đặc biệt là những thứ phức tạp hay nỗi thống khổ gan lì mà không bị tôi quẳng đi. Nhờ vậy mà tài khoản tiết kiệm của tôi đã tăng lên những con số mà trước đó chưa từng có, dù tôi thật sự quá bận rộn chẳng có thời gian mà tiêu tiền. Bởi vậy khi một gã quen đề nghị với tôi một hợp đồng béo bở, tôi liền tống khứ cái xe không mang lại gì ngoài cơn đau đầu của mình và mua một chiếc Subaru Leone một năm tuổi về. Chưa từng được lái, lại cón dàn âm thanh nổi và điều hòa không khí. Một chiếc ngon thật sự đầu tiên dành cho tôi. Và tôi chuyển tới căn hộ ở Shibuya, gần thành phố hơn. Ở đây hơi ồn một chút – đường cao tốc chạy ngang qua ngay bên phải cửa sổ phòng tôi – nhưng rồi thì bạn sẽ quen hết.
Tôi ngủ với một vài người phụ nữ gặp gỡ qua công việc.
Phục hồi về mặt xã hội là thế. Tôi có một linh cảm về những người phụ nữ mà mình nên ngủ cùng. Và những người phụ nữ mình có thể ngủ cùng, những người không. Thậm chí có thể là khi tôi không nên ngủ cùng họ. Đó là sự tinh thông đến cùng với tuổi già. Tôi còn biết khi nào nên bỏ cuộc để mọi thứ thật dễ chịu, dễ dàng để không ai bị tổn thương. Chỉ thiếu đi mất xúc cảm sâu sắc của trái tim.
Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2010
Dance Dance Dance - Murakami Haruki (P5)
Trong thư, vợ cũ của tôi thẳng thắn bày tỏ lúc này cô ấy đang cần trông nom một vài mối tình. Sau đó đề cập tới việc mình sắp thành hôn với một người nào đó mà tôi không quen, và có lẽ sẽ chẳng bao giờ biết. Điều đó có nghĩa là cô ấy đã chia tay người bạn của tôi, cái người mà cô ấy theo đuổi khi chúng tôi li dị. Tôi chẳng ngạc nhiên khi họ chia tay. Gã đó chẳng phải tay ghi-ta nhạc jazz cừ cũng không phải con người tốt đẹp gì. Thật không hiểu nổi cô ấy thấy gã ta hay ở điểm nào – nhưng đâu phải chuyện của tôi phải không? Còn về phần tôi, cô ấy nói chẳng hề thấy lo lắng. Tôi rồi sẽ ổn cho dù tôi lựa chọn thế nào. Cô ấy lại dành phần lo nghĩ cho những người có dính líu tới tôi.
Tôi đọc những bức thư này một vài lần rồi lần lượt cất đi. Và rồi vài tháng trôi qua. Tiền nong không phải mối lo ngại. Tôi đã để dành một số tiền lớn đủ để sống qua ngày và cũng chưa nghĩ gì về những chuyện sau này. Mùa đông trôi qua. Xuân đến. Hương vị của gió đã đổi thay. Thậm chí vẻ tối tăm của đêm cũng khác biệt.
Vào cuối tháng năm, con mèo Kipper của tôi chết. Đột ngột chẳng hề báo trước. Một sáng thức dậy, tôi thấy nó nằm cuộn tròn trên sàn nhà, đã chết. Có lẽ bản thân nó cũng không hiểu nổi chuyện gì đang diễn ra. Thân xác nó lạnh lẽo và cứng ngắc, hệt như miếng gà nướng hôm trước khi bị lột bỏ lớp lông. Con mèo khó có thể nói rằng nó đã có một cuộc đời tươi đẹp. Chưa hề được ai thực sự yêu thương, cũng chẳng hề tỏ ra yêu thương ai đó thật lòng. Đôi mắt nó luôn ánh lên vẻ khó chịu, như thể “sao nào?” Bạn không nhận thấy cái nhìn ấy ở một con mèo một cách thường xuyên. Dù thế nào thì nó cũng đã chết. Chẳng còn gì hơn nữa. Đó có lẽ lại là điều tốt đẹp nhất mà cái chết mang lại.
Tôi cho xác con mèo vào túi của siêu thị Seiyu, đặt nó trên ghế sau ô tô và lái tới cửa hiệu đồ kim khí để mua một cái xẻng. Tôi lái xe khỏi quốc lộ, rẽ vào đường lên đồi và tìm thấy một khu rừng nhỏ. Cách một đoạn khá xa từ đường vào, tôi đào một cái hố sâu một mét và đặt Kipper yên nghỉ trong chiếc túi mua sắm xuống. Sau đó tôi xúc một lớp đất lên trên nó. Xin lỗi nhé, tôi bảo chú mèo nhỏ, sự đời phải thế thôi. Chim chóc reo ca trong suốt khoảng thời gian tôi chôn chú mèo. Âm vực cao vút như thổi sáo. Lấp đầy hố xong, tôi quẳng xẻng vào thùng xe và quay lại quốc lộ. Trong khi lái xe về Tokyo, tôi bật đài lên. Đúng lúc DJ đang phát nhạc của Ray Charles than khóc khi sinh ra chỉ để mất mát… và giờ đây tôi đánh mất con mèo. Tôi thấy muốn khóc. Đôi khi chỉ một điều nhỏ nhặt cũng làm nên chuyện. Tôi tắt đài đi và tấp vào khu vực dịch vụ. Đầu tiên, tôi rửa sạch đất cát ở tay, sau đó đi vào nhà hàng. Tôi chỉ nuốt nổi miếng thứ ba của chiếc bánh sandwich nhưng lại uống tới hai cốc cà phê. Không biết giờ này Kipper đang làm gì? Tôi tự hỏi. Nằm sâu đâu đó trong đêm tối. Tiếng đất rơi trên chiếc túi Seiyu vang vọng lại trong não tôi. Đời là vậy, anh bạn à, tôi với anh giống nhau cả thôi. Tôi cứ ngồi nhìn chằm chằm miếng sandwich bỏ dở trong suốt một tiếng đồng hồ. Cho tới khi cô phục vụ bàn cáu kỉnh không hề báo trước chạy lại và bồn chồn hỏi xem liệu cô ấy có thể dọn đĩa đi không.
Vậy đấy, tôi nghĩ. Giờ thì trở về với xã hội nào.
Không khó khăn gì để tìm một công việc trong cái tổ lớn của một xã hội tư bản phát triển. Chính là như thế, miễn là bạn không hỏi điều gì quá đáng. Khi tôi vẫn còn văn phòng của mình, tôi nhận phần biên tập và viết lách nên có quen biết một vài tay chuyên nghiệp trong lĩnh vực này. Bởi vậy khi tôi bắt đầu làm nghề tự do thì không phải đào tạo lại nhiều. Dù sao tôi cũng chẳng cần kiếm nhiều tiền để sống.
Tôi mở cuốn sổ tay địa chỉ của mình ra và gọi vài cuộc. Hỏi xem liệu có công việc nào đang cần người không. Tôi nói rằng mình đã có khoảng thời gian thả lỏng nhưng giờ thì đã sẵn sàng để lao vào cuộc. Gần như ngay tức thì, việc đến tay tôi. Dù không phải công việc đặc biệt hứng thú lắm, hầu hết là điền vào thư ngỏ giới thiệu và tập quảng cáo của các công ty. Nói một cách khiêm tốn thì phân nửa những gì tôi viết ra chẳng có chút ý nghĩa nào cả, cũng chẳng hữu dụng cho bất kỳ ai. Thật phí bút mực. Nhưng tôi đã làm công việc ấy một cách máy móc, chẳng hề suy nghĩ gì. Ban đầu lượng công việc không nhiều, chỉ ngốn hai tiếng đồng hồ mỗi ngày. Thời gian còn lại tôi hay ra ngoài đi dạo hay xem phim. Tôi đã xem rất nhiều bộ phim. Trong vòng ba tháng, tôi có khoảng thời gian dễ chịu. Tôi đã dần trở về với các mối liên hệ. Sau đó, vào đầu thu, mọi chuyện bắt đầu đổi khác. Lượng công việc tăng một cách đáng kể. Điện thoại không ngừng đổ chuông, hòm thư điện tử bao giờ cũng chất ứ. Tôi gặp những người trong ngành và ăn trưa cùng họ. Họ hứa hẹn với tôi thêm nhiều việc nữa.
Tôi đọc những bức thư này một vài lần rồi lần lượt cất đi. Và rồi vài tháng trôi qua. Tiền nong không phải mối lo ngại. Tôi đã để dành một số tiền lớn đủ để sống qua ngày và cũng chưa nghĩ gì về những chuyện sau này. Mùa đông trôi qua. Xuân đến. Hương vị của gió đã đổi thay. Thậm chí vẻ tối tăm của đêm cũng khác biệt.
Vào cuối tháng năm, con mèo Kipper của tôi chết. Đột ngột chẳng hề báo trước. Một sáng thức dậy, tôi thấy nó nằm cuộn tròn trên sàn nhà, đã chết. Có lẽ bản thân nó cũng không hiểu nổi chuyện gì đang diễn ra. Thân xác nó lạnh lẽo và cứng ngắc, hệt như miếng gà nướng hôm trước khi bị lột bỏ lớp lông. Con mèo khó có thể nói rằng nó đã có một cuộc đời tươi đẹp. Chưa hề được ai thực sự yêu thương, cũng chẳng hề tỏ ra yêu thương ai đó thật lòng. Đôi mắt nó luôn ánh lên vẻ khó chịu, như thể “sao nào?” Bạn không nhận thấy cái nhìn ấy ở một con mèo một cách thường xuyên. Dù thế nào thì nó cũng đã chết. Chẳng còn gì hơn nữa. Đó có lẽ lại là điều tốt đẹp nhất mà cái chết mang lại.
Tôi cho xác con mèo vào túi của siêu thị Seiyu, đặt nó trên ghế sau ô tô và lái tới cửa hiệu đồ kim khí để mua một cái xẻng. Tôi lái xe khỏi quốc lộ, rẽ vào đường lên đồi và tìm thấy một khu rừng nhỏ. Cách một đoạn khá xa từ đường vào, tôi đào một cái hố sâu một mét và đặt Kipper yên nghỉ trong chiếc túi mua sắm xuống. Sau đó tôi xúc một lớp đất lên trên nó. Xin lỗi nhé, tôi bảo chú mèo nhỏ, sự đời phải thế thôi. Chim chóc reo ca trong suốt khoảng thời gian tôi chôn chú mèo. Âm vực cao vút như thổi sáo. Lấp đầy hố xong, tôi quẳng xẻng vào thùng xe và quay lại quốc lộ. Trong khi lái xe về Tokyo, tôi bật đài lên. Đúng lúc DJ đang phát nhạc của Ray Charles than khóc khi sinh ra chỉ để mất mát… và giờ đây tôi đánh mất con mèo. Tôi thấy muốn khóc. Đôi khi chỉ một điều nhỏ nhặt cũng làm nên chuyện. Tôi tắt đài đi và tấp vào khu vực dịch vụ. Đầu tiên, tôi rửa sạch đất cát ở tay, sau đó đi vào nhà hàng. Tôi chỉ nuốt nổi miếng thứ ba của chiếc bánh sandwich nhưng lại uống tới hai cốc cà phê. Không biết giờ này Kipper đang làm gì? Tôi tự hỏi. Nằm sâu đâu đó trong đêm tối. Tiếng đất rơi trên chiếc túi Seiyu vang vọng lại trong não tôi. Đời là vậy, anh bạn à, tôi với anh giống nhau cả thôi. Tôi cứ ngồi nhìn chằm chằm miếng sandwich bỏ dở trong suốt một tiếng đồng hồ. Cho tới khi cô phục vụ bàn cáu kỉnh không hề báo trước chạy lại và bồn chồn hỏi xem liệu cô ấy có thể dọn đĩa đi không.
Vậy đấy, tôi nghĩ. Giờ thì trở về với xã hội nào.
Không khó khăn gì để tìm một công việc trong cái tổ lớn của một xã hội tư bản phát triển. Chính là như thế, miễn là bạn không hỏi điều gì quá đáng. Khi tôi vẫn còn văn phòng của mình, tôi nhận phần biên tập và viết lách nên có quen biết một vài tay chuyên nghiệp trong lĩnh vực này. Bởi vậy khi tôi bắt đầu làm nghề tự do thì không phải đào tạo lại nhiều. Dù sao tôi cũng chẳng cần kiếm nhiều tiền để sống.
Tôi mở cuốn sổ tay địa chỉ của mình ra và gọi vài cuộc. Hỏi xem liệu có công việc nào đang cần người không. Tôi nói rằng mình đã có khoảng thời gian thả lỏng nhưng giờ thì đã sẵn sàng để lao vào cuộc. Gần như ngay tức thì, việc đến tay tôi. Dù không phải công việc đặc biệt hứng thú lắm, hầu hết là điền vào thư ngỏ giới thiệu và tập quảng cáo của các công ty. Nói một cách khiêm tốn thì phân nửa những gì tôi viết ra chẳng có chút ý nghĩa nào cả, cũng chẳng hữu dụng cho bất kỳ ai. Thật phí bút mực. Nhưng tôi đã làm công việc ấy một cách máy móc, chẳng hề suy nghĩ gì. Ban đầu lượng công việc không nhiều, chỉ ngốn hai tiếng đồng hồ mỗi ngày. Thời gian còn lại tôi hay ra ngoài đi dạo hay xem phim. Tôi đã xem rất nhiều bộ phim. Trong vòng ba tháng, tôi có khoảng thời gian dễ chịu. Tôi đã dần trở về với các mối liên hệ. Sau đó, vào đầu thu, mọi chuyện bắt đầu đổi khác. Lượng công việc tăng một cách đáng kể. Điện thoại không ngừng đổ chuông, hòm thư điện tử bao giờ cũng chất ứ. Tôi gặp những người trong ngành và ăn trưa cùng họ. Họ hứa hẹn với tôi thêm nhiều việc nữa.
Dance Dance Dance - Murakami Haruki (P4)
Tôi được cử về Hokkaido để công tác. Xét về phần công việc thì cũng không phải cực kỳ mong chờ nhưng tôi nào có được lựa chọn. Nói tóm lại thì dù công việc nào đến với tôi thì nhìn chung không khác nhau là mấy. Cho dù thế nào thì khi bạn càng vượt xa quá bán thì mối liên hệ về mặt bản chất của sự vật càng ít đi. Cũng giống như chiều dài bước sóng vậy: Vượt qua một điểm cố định, bạn hầu như không thể xác định trong hai điểm liên tiếp, điểm nào có âm vực cao hơn, và sau cùng, khi bạn thuần túy không thể phân biệt nổi chúng thì bạn chẳng hề nghe thấy chúng nữa.
Công việc tôi được một tạp chí phụ nữ giao cho có tên “Ăn ngon tại Hakodate”. Cùng với một tay thợ chụp ảnh, tôi đã ghé thăm một vài nhà hàng. Tôi viết lời dẫn còn anh ta cung cấp hình ảnh cho tổng cộng năm mặt báo. Ừ thì cũng phải có ai đó viết lách gì chứ. Hệt như việc có người dọn rác và người thì xúc tuyết vậy. Chẳng quan trọng là bạn có thích nó hay không. Công việc là công việc. Đó là cách tôi cống hiến cho xã hội trong ba năm rưỡi qua. Xúc tuyết. Một loại tuyết văn hóa như bạn biết đấy.
Vì một vài vấn đề bất đắc dĩ, tôi đã nghỉ việc làm tại văn phòng do tôi và một người bạn nữa điều hành, và trong vòng nửa năm, tôi hầu như chẳng làm gì cả. Tôi thấy không hứng làm gì hết. Mùa thu năm ngoái, đủ loại vấn đề đổ lên đầu tôi. Tôi li dị này. Một người bạn chết thật bí ẩn này. Một người phụ nữ rời bỏ tôi mà chẳng để lại lời nào. Tôi gặp gỡ một người đàn ông lạ lùng và thấy mình rơi vào một loạt những diễn biến bất thường. Tới khi mọi chuyện qua đi thì bản thân tôi lại chìm sâu vào sự tĩnh mịch mà trước đó chưa từng biết tới. Bầu không khí trống vắng tàn phá đọng lại mãi trong căn phòng. Tôi đã ở lì trong đó trong sáu tháng. Tôi không ra ngoài vào ban ngày, trừ phi phải mua những nhu yếu phẩm để duy trì cuộc sống. Tôi mạo hiểm vào thành phố khi những tia nắng đầu tiên của hừng đông vừa lên và dạo bước trên đường phố không một bóng người, khi phố xá tấp nập người qua lại, tôi lại trở về căn hộ của mình để yên giấc.
Đêm tối xuống, tôi tỉnh dậy, tìm thứ gì đó bỏ bụng và cho con mèo ăn. Sau đó tôi ngồi trên sàn nhà, suy nghĩ một cẩn thận những sự việc đã xảy ra với mình, cố gắng lý giải chúng. Sắp xếp các sự kiện theo một trình tự, liệt kê những phương án thay thế khả dĩ và xem xét tính đúng đắn của những việc mình đã làm. Quá trình này kéo dài cho tới bình minh, tôi lại ra ngoài và lang thang trên đường.
Trong suốt nửa năm thời khóa biểu của tôi là như vậy đấy. Từ tháng một tới tháng 6 năm 1979. Tôi không đụng đến một cuốn sách. Không mở bất kỳ tờ báo nào. Không xem ti vi và cũng chẳng nghe đài. Không gặp gỡ ai và cũng chẳng nói chuyện với ai. Tôi thậm chí không chè chén. Tâm trí lúc ấy không dành cho việc đó.
Tôi không biết tí gì về mọi sự trên thế gian này, người nào đã trở nên nổi tiếng, người nào đã chết, không biết tí gì cả. Không phải tôi cố chấp từ chối tiếp nhận thông tin, chỉ là tôi không hề có mong muốn nhận biết điều gì. Cho dù vậy, tôi vẫn biết rằng mọi sự đang diễn ra. Thế giới không hề ngừng nghỉ. Tôi có thể cảm nhận điều đó bên trong da thịt mình, dù đang ngồi một mình trong căn hộ. Tuy nhiên điều đó cũng không sao khiến tôi quan tâm. Nó chỉ tựa như hơi thở tĩnh lặng của không khí, lướt nhẹ qua tôi…
Ngồi trên sàn, tôi để quá khứ diễn lại trong tâm trí mình. Thật nực cười bởi đó là tất cả những gì tôi làm, ngày qua ngày trong suốt nửa năm mà không hề thấy chán ngán chút nào. Những gì tôi đã trải quá có vẻ khổng lồ với rất nhiều khía cạnh. Nhiều nhưng lại chân thật, rất chân thật, đó cũng là lý do trải nghiệm không ngừng hiện lên trong tâm trí tôi, như đài tưởng niệm rạng ngời trong đêm tối. Và vấn đề đài tưởng niệm ấy là dành cho tôi. Tôi quan sát các sự kiện từ tất cả các góc độ có thể. Tôi cho rằng mình đã bị thương tổn nặng nề. Tổn thương này không phải vặt vãnh. Máu đã lặng lẽ chảy. Một khoảng thời gian sau, một vài nỗi thống khổ qua đi, một số lại chỉ xuất hiện sau đó. Nhưng nửa năm tôi nhốt mình trong nhà không phải để dưỡng thương. Cũng không phải là biểu hiện khước từ một cách tự kỷ của thế giới nội tâm. Tôi chỉ đơn giản là cần thời gian để làm lại cuộc đời. Một khi đã đứng vững trên đôi chân mình, tôi cố gắng không nghĩ ngợi xem mình sẽ đi về đâu. Đó lại là một câu hỏi hoàn toàn khác và cần phải suy nghĩ vào thời điểm sau đó. Cái chính là phải tìm được điểm cân bằng. Tôi hiếm khi trò chuyện với con mèo. Chuông điện thoại reo. Tôi để mặc. Nếu có ai đó gõ cửa, tôi làm như không có ở đó. Chỉ có một vài lá thư. Hai cái là từ đồng nghiệp cũ, người mà không biết tôi ở đâu, đang định làm gì hay quan tâm đến điều chi. Anh ta có thể làm gì giúp tôi ư? Công việc kinh doanh mới của anh ấy suôn sẻ, có đối tác quen hỏi thăm về tôi.
Công việc tôi được một tạp chí phụ nữ giao cho có tên “Ăn ngon tại Hakodate”. Cùng với một tay thợ chụp ảnh, tôi đã ghé thăm một vài nhà hàng. Tôi viết lời dẫn còn anh ta cung cấp hình ảnh cho tổng cộng năm mặt báo. Ừ thì cũng phải có ai đó viết lách gì chứ. Hệt như việc có người dọn rác và người thì xúc tuyết vậy. Chẳng quan trọng là bạn có thích nó hay không. Công việc là công việc. Đó là cách tôi cống hiến cho xã hội trong ba năm rưỡi qua. Xúc tuyết. Một loại tuyết văn hóa như bạn biết đấy.
Vì một vài vấn đề bất đắc dĩ, tôi đã nghỉ việc làm tại văn phòng do tôi và một người bạn nữa điều hành, và trong vòng nửa năm, tôi hầu như chẳng làm gì cả. Tôi thấy không hứng làm gì hết. Mùa thu năm ngoái, đủ loại vấn đề đổ lên đầu tôi. Tôi li dị này. Một người bạn chết thật bí ẩn này. Một người phụ nữ rời bỏ tôi mà chẳng để lại lời nào. Tôi gặp gỡ một người đàn ông lạ lùng và thấy mình rơi vào một loạt những diễn biến bất thường. Tới khi mọi chuyện qua đi thì bản thân tôi lại chìm sâu vào sự tĩnh mịch mà trước đó chưa từng biết tới. Bầu không khí trống vắng tàn phá đọng lại mãi trong căn phòng. Tôi đã ở lì trong đó trong sáu tháng. Tôi không ra ngoài vào ban ngày, trừ phi phải mua những nhu yếu phẩm để duy trì cuộc sống. Tôi mạo hiểm vào thành phố khi những tia nắng đầu tiên của hừng đông vừa lên và dạo bước trên đường phố không một bóng người, khi phố xá tấp nập người qua lại, tôi lại trở về căn hộ của mình để yên giấc.
Đêm tối xuống, tôi tỉnh dậy, tìm thứ gì đó bỏ bụng và cho con mèo ăn. Sau đó tôi ngồi trên sàn nhà, suy nghĩ một cẩn thận những sự việc đã xảy ra với mình, cố gắng lý giải chúng. Sắp xếp các sự kiện theo một trình tự, liệt kê những phương án thay thế khả dĩ và xem xét tính đúng đắn của những việc mình đã làm. Quá trình này kéo dài cho tới bình minh, tôi lại ra ngoài và lang thang trên đường.
Trong suốt nửa năm thời khóa biểu của tôi là như vậy đấy. Từ tháng một tới tháng 6 năm 1979. Tôi không đụng đến một cuốn sách. Không mở bất kỳ tờ báo nào. Không xem ti vi và cũng chẳng nghe đài. Không gặp gỡ ai và cũng chẳng nói chuyện với ai. Tôi thậm chí không chè chén. Tâm trí lúc ấy không dành cho việc đó.
Tôi không biết tí gì về mọi sự trên thế gian này, người nào đã trở nên nổi tiếng, người nào đã chết, không biết tí gì cả. Không phải tôi cố chấp từ chối tiếp nhận thông tin, chỉ là tôi không hề có mong muốn nhận biết điều gì. Cho dù vậy, tôi vẫn biết rằng mọi sự đang diễn ra. Thế giới không hề ngừng nghỉ. Tôi có thể cảm nhận điều đó bên trong da thịt mình, dù đang ngồi một mình trong căn hộ. Tuy nhiên điều đó cũng không sao khiến tôi quan tâm. Nó chỉ tựa như hơi thở tĩnh lặng của không khí, lướt nhẹ qua tôi…
Ngồi trên sàn, tôi để quá khứ diễn lại trong tâm trí mình. Thật nực cười bởi đó là tất cả những gì tôi làm, ngày qua ngày trong suốt nửa năm mà không hề thấy chán ngán chút nào. Những gì tôi đã trải quá có vẻ khổng lồ với rất nhiều khía cạnh. Nhiều nhưng lại chân thật, rất chân thật, đó cũng là lý do trải nghiệm không ngừng hiện lên trong tâm trí tôi, như đài tưởng niệm rạng ngời trong đêm tối. Và vấn đề đài tưởng niệm ấy là dành cho tôi. Tôi quan sát các sự kiện từ tất cả các góc độ có thể. Tôi cho rằng mình đã bị thương tổn nặng nề. Tổn thương này không phải vặt vãnh. Máu đã lặng lẽ chảy. Một khoảng thời gian sau, một vài nỗi thống khổ qua đi, một số lại chỉ xuất hiện sau đó. Nhưng nửa năm tôi nhốt mình trong nhà không phải để dưỡng thương. Cũng không phải là biểu hiện khước từ một cách tự kỷ của thế giới nội tâm. Tôi chỉ đơn giản là cần thời gian để làm lại cuộc đời. Một khi đã đứng vững trên đôi chân mình, tôi cố gắng không nghĩ ngợi xem mình sẽ đi về đâu. Đó lại là một câu hỏi hoàn toàn khác và cần phải suy nghĩ vào thời điểm sau đó. Cái chính là phải tìm được điểm cân bằng. Tôi hiếm khi trò chuyện với con mèo. Chuông điện thoại reo. Tôi để mặc. Nếu có ai đó gõ cửa, tôi làm như không có ở đó. Chỉ có một vài lá thư. Hai cái là từ đồng nghiệp cũ, người mà không biết tôi ở đâu, đang định làm gì hay quan tâm đến điều chi. Anh ta có thể làm gì giúp tôi ư? Công việc kinh doanh mới của anh ấy suôn sẻ, có đối tác quen hỏi thăm về tôi.
Thứ Bảy, 23 tháng 1, 2010
Dance Dance Dance - Murakami Haruki (P3)
Ấy vậy mà chúng tôi đã ở lại đó. Chúng mình sẽ nghỉ tại đây, nàng nói như thế. Và sau đấy biến mất. Nàng đột ngột tan biến. Anh chàng Người cừu đã bảo tôi như vậy.
Ngườiphụnữđãrờiđimộtmìnhvàobuổichiềurồi, Người cừu nói. Bằng cách nào đó anh ta biết. Anh ta biết rằng nàng đã rời khỏi đây. Vậy mà giờ tôi mới biết. Mục đích của nàng là đưa tôi đến đó. Như thể đó là số mệnh của nàng vậy. Giống như sông Moldau trôi về đại dương. Hệt như cơn mưa.
Nàng là điều đầu tiên hiện lên trong tâm trí khi tôi bắt đầu mơ về khách sạn Cá heo. Nàng đang tìm kiếm tôi. Còn lý do nào khác khiến tôi cứ mơ hoài giấc mơ ấy?
Nàng. Tên nàng là gì nhỉ? Chúng tôi bên nhau hàng tháng trời vậy mà tôi không hề biết. Thực sự thì tôi biết gì về nàng? Nàng từng làm cho một câu lạc bộ gái gọi cao cấp. Câu lạc bộ chỉ mở cửa cho thành viên, những người dưới-mức-hoàn-hảo không được chào đón ở đây. Vậy nàng là một gái gọi hạng sang. Trong giờ làm việc cao điểm, nàng nhận kiểm tra bản in, một công việc bán thời gian tại một nhà xuất bản, ngoài ra còn làm người mẫu tai nữa. Nói cách khác, nàng rất bận rộn. Cố nhiên nàng không phải không có một cái tên. Thật ra tôi chắc nàng từng sử dụng nhiều cái tên khác nhau. Vậy trên thực tế nàng không có lấy một cái tên. Cho dù nàng mang theo có là gì – mà điều này gần như không có gì – thì cũng không phải là một cái tên. Nàng không có vé tàu lửa, không bằng lái, không thể tín dụng. Nàng có mang theo một quyển sổ tay nhỏ nhưng bị vẽ nguệch ngoạc khó mà dịch ra nổi. Hiển nhiên nàng không muốn bị nhận dạng. Gái điếm có thể có tên nhưng họ sống trong một thế giới mà không cần phải được biết đến.
Tôi hầu như chẳng biết gì về nàng cả. Nơi sinh, tuổi tác thực, ngày sinh nhật hay học vấn và gia đình nàng. Vội vàng như một cơn mưa, nàng bỗng dưng xuất hiện rồi đột ngột tan biến, chỉ để lại mảng ký ức. Nhưng ngay lúc này, ký ức về nàng đang thay thế hiện thực đang đến. Hiện thực đang hiện hữu. Nàng đang gọi tôi qua câu chuyện về khách sạn cá heo. Phải rồi, nàng đang kiếm tìm tôi lần nữa. Và chỉ có trở thành một bộ phận của khách sạn Cá heo thì tôi mới lại được thấy nàng. Không còn nghi vấn gì nữa, chính nàng là người khóc than cho tôi.
Ngắm nhìn màn mưa, tôi nghĩ suy về ý nghĩa của việc thuộc về, hay trở thành một phần của điều gì đó. Về việc có người vì mình mà than khóc. Từ một nơi xa, rất xa. Cuối cùng, từ trong một giấc mơ. Cho dù tôi có cố với tới hay chạy thật nhanh thì tôi vẫn chẳng thể nào nắm giữ. Tại sao có ai đó lại muốn nhỏ nước mắt vì tôi nhỉ? Nàng chắc chắn đang gọi tôi. Từ nơi nào đó trong khách sạn Cá heo. Và hiển nhiên, khách sạn Cá heo cũng là nơi tôi hằng tìm kiếm trong tâm trí mình. Được đưa tới nơi đó, trở thành một phần của địa điểm định mệnh kỳ quái ấy.
Quay lại khách sạn Cá heo không phải là điều dễ dàng, cũng không phải là một câu hỏi đơn giản làm dấy lên nỗi e ngại, lên một chiếc máy bay, bảy tới Sapporo và nhiệm vụ thế là hoàn thành. Về phần khách sạn ấy, theo tôi nghĩ, trông có vẻ giống một địa điểm, một trạng thái ẩn dưới vỏ bọc của một khách sạn. Quay trở về khách sạn Cá heo có nghĩa là đối mặt với bóng tối của quá khứ. Chỉ viễn cảnh ấy đã khiến tôi nản lòng. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm trong bốn năm qua để tách bản thân mình ra khỏi cái bóng lạnh lùng và mơ hồ ấy. Trở về khách sạn Cá heo là từ bỏ tất cả những gì tôi đã đặt sang một bên trong suốt thời gian ấy. Nếu bạn có để ý thì những gì tôi đạt được cũng chẳng phải to tát gì. Cho dù nhìn thế nào thì cũng chỉ là những thứ thuận tiện mà làm. Okay, tôi đã cố hết sức. Nhờ một số mánh khóe khôn khéo, tôi đã xoay xở giả mạo được mối liên hệ với thực tại, dựng lên một cuộc sống dựa trên những giá trị được đặt ra. Chẳng lẽ bây giờ tôi phải từ bỏ sao? Nhưng tất thảy khởi đầu tại đó. Chừng ấy không thể nào mà chối bỏ được. Vậy câu chuyện phải được bắt đầu từ điểm đó. Tôi lăn trở lại giường, nhìn lên trần nhà và thở ra một tiếng thở dài. Ôi, bỏ đi thôi, tôi nghĩ. Nhưng ý nghĩ bỏ cuộc không giữ được lâu. Nó trượt khỏi bàn tay bạn, anh bạn à. Cho dù bạn có nghĩ thế nào thì bạn cũng chẳng thể nào cưỡng lại nổi. Câu chuyện đã được định sẵn như vậy rồi.
Chú thích:
Moldau (tiếng Đức) chỉ sông Vltava (Cộng hòa Séc)
Ngườiphụnữđãrờiđimộtmìnhvàobuổichiềurồi, Người cừu nói. Bằng cách nào đó anh ta biết. Anh ta biết rằng nàng đã rời khỏi đây. Vậy mà giờ tôi mới biết. Mục đích của nàng là đưa tôi đến đó. Như thể đó là số mệnh của nàng vậy. Giống như sông Moldau trôi về đại dương. Hệt như cơn mưa.
Nàng là điều đầu tiên hiện lên trong tâm trí khi tôi bắt đầu mơ về khách sạn Cá heo. Nàng đang tìm kiếm tôi. Còn lý do nào khác khiến tôi cứ mơ hoài giấc mơ ấy?
Nàng. Tên nàng là gì nhỉ? Chúng tôi bên nhau hàng tháng trời vậy mà tôi không hề biết. Thực sự thì tôi biết gì về nàng? Nàng từng làm cho một câu lạc bộ gái gọi cao cấp. Câu lạc bộ chỉ mở cửa cho thành viên, những người dưới-mức-hoàn-hảo không được chào đón ở đây. Vậy nàng là một gái gọi hạng sang. Trong giờ làm việc cao điểm, nàng nhận kiểm tra bản in, một công việc bán thời gian tại một nhà xuất bản, ngoài ra còn làm người mẫu tai nữa. Nói cách khác, nàng rất bận rộn. Cố nhiên nàng không phải không có một cái tên. Thật ra tôi chắc nàng từng sử dụng nhiều cái tên khác nhau. Vậy trên thực tế nàng không có lấy một cái tên. Cho dù nàng mang theo có là gì – mà điều này gần như không có gì – thì cũng không phải là một cái tên. Nàng không có vé tàu lửa, không bằng lái, không thể tín dụng. Nàng có mang theo một quyển sổ tay nhỏ nhưng bị vẽ nguệch ngoạc khó mà dịch ra nổi. Hiển nhiên nàng không muốn bị nhận dạng. Gái điếm có thể có tên nhưng họ sống trong một thế giới mà không cần phải được biết đến.
Tôi hầu như chẳng biết gì về nàng cả. Nơi sinh, tuổi tác thực, ngày sinh nhật hay học vấn và gia đình nàng. Vội vàng như một cơn mưa, nàng bỗng dưng xuất hiện rồi đột ngột tan biến, chỉ để lại mảng ký ức. Nhưng ngay lúc này, ký ức về nàng đang thay thế hiện thực đang đến. Hiện thực đang hiện hữu. Nàng đang gọi tôi qua câu chuyện về khách sạn cá heo. Phải rồi, nàng đang kiếm tìm tôi lần nữa. Và chỉ có trở thành một bộ phận của khách sạn Cá heo thì tôi mới lại được thấy nàng. Không còn nghi vấn gì nữa, chính nàng là người khóc than cho tôi.
Ngắm nhìn màn mưa, tôi nghĩ suy về ý nghĩa của việc thuộc về, hay trở thành một phần của điều gì đó. Về việc có người vì mình mà than khóc. Từ một nơi xa, rất xa. Cuối cùng, từ trong một giấc mơ. Cho dù tôi có cố với tới hay chạy thật nhanh thì tôi vẫn chẳng thể nào nắm giữ. Tại sao có ai đó lại muốn nhỏ nước mắt vì tôi nhỉ? Nàng chắc chắn đang gọi tôi. Từ nơi nào đó trong khách sạn Cá heo. Và hiển nhiên, khách sạn Cá heo cũng là nơi tôi hằng tìm kiếm trong tâm trí mình. Được đưa tới nơi đó, trở thành một phần của địa điểm định mệnh kỳ quái ấy.
Quay lại khách sạn Cá heo không phải là điều dễ dàng, cũng không phải là một câu hỏi đơn giản làm dấy lên nỗi e ngại, lên một chiếc máy bay, bảy tới Sapporo và nhiệm vụ thế là hoàn thành. Về phần khách sạn ấy, theo tôi nghĩ, trông có vẻ giống một địa điểm, một trạng thái ẩn dưới vỏ bọc của một khách sạn. Quay trở về khách sạn Cá heo có nghĩa là đối mặt với bóng tối của quá khứ. Chỉ viễn cảnh ấy đã khiến tôi nản lòng. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm trong bốn năm qua để tách bản thân mình ra khỏi cái bóng lạnh lùng và mơ hồ ấy. Trở về khách sạn Cá heo là từ bỏ tất cả những gì tôi đã đặt sang một bên trong suốt thời gian ấy. Nếu bạn có để ý thì những gì tôi đạt được cũng chẳng phải to tát gì. Cho dù nhìn thế nào thì cũng chỉ là những thứ thuận tiện mà làm. Okay, tôi đã cố hết sức. Nhờ một số mánh khóe khôn khéo, tôi đã xoay xở giả mạo được mối liên hệ với thực tại, dựng lên một cuộc sống dựa trên những giá trị được đặt ra. Chẳng lẽ bây giờ tôi phải từ bỏ sao? Nhưng tất thảy khởi đầu tại đó. Chừng ấy không thể nào mà chối bỏ được. Vậy câu chuyện phải được bắt đầu từ điểm đó. Tôi lăn trở lại giường, nhìn lên trần nhà và thở ra một tiếng thở dài. Ôi, bỏ đi thôi, tôi nghĩ. Nhưng ý nghĩ bỏ cuộc không giữ được lâu. Nó trượt khỏi bàn tay bạn, anh bạn à. Cho dù bạn có nghĩ thế nào thì bạn cũng chẳng thể nào cưỡng lại nổi. Câu chuyện đã được định sẵn như vậy rồi.
Chú thích:
Moldau (tiếng Đức) chỉ sông Vltava (Cộng hòa Séc)
Chủ Nhật, 29 tháng 11, 2009
Dance Dance Dance - Murakami Haruki (P2)
Một khách sạn bí ẩn.
Điều gợi nhớ cho tôi là một ngõ cụt sinh học. Sự thoái hóa gen. Một tai nạn kỳ quái của tự nhiên đã khiến cho một số bộ phận cơ thể ở sai chỗ mà không thể sửa chữa được. Phương hướng tiến hóa bị phá hủy, một thể sống mồ côi bị bỏ lại, run rẩy sau tấm màn lịch sử, nơi Vùng-Đất-Bị-Thời-Gian-Quên-Lãng. Đó không phải là lỗi của bất kỳ ai. Không ai bị đổ lỗi, cũng không ai cứu giúp.
Khách sạn nhẽ ra không nên được xây tại nơi nó ngự trị. Đó là sai lầm đầu tiên, và theo đó mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Như thể cài nhầm một nút áo, tất cả mọi cố gắng để sửa chữa đều dẫn đến một đống lộn xộn khả quan, nếu không muốn nói là lịch lãm. Không một chi tiết nào có vẻ đúng đắn. Thử nhìn mọi thứ nơi này và bạn sẽ thấy mình phải nghiêng đầu một vài độ. Không đủ để gây cho bạn mối hại nào và cũng chẳng phải đặc biệt kỳ quặc gì. Ai mà biết được? Biết đâu bạn lại quen nhìn mọi thứ theo chiều nghiêng này (nhưng nếu bạn thực sự như thế thì bạn sẽ không bao giờ có thể nhìn ngắm thế giới một lần nữa với cái đầu để đúng vị trí).
Đó là khách sạn Cá heo. Nó thiếu vắng sự bình thường. Bối rối chất chồng cho tới khi đạt tới ngưỡng, định mệnh trong tương lai không xa bị cơn lốc thời gian nuốt chửng. Ai cũng có thể nhận ra ngay trong chớp mắt. Một chốn thảm hại, trông thiểu não như một con chó ba chân ướt sũng trong mưa tháng mười hai. Những khách sạn buồn rầu có mặt khắp nơi, có điều chắc chắn là Cá heo có một hạng riêng của mình. Khách sạn Cá heo là cả một khái niệm thương cảm. Khách sạn Cá heo đúng thật là bi kịch. Vậy nên chẳng cần phải nói, trừ những tâm hồn nghèo khổ và không chút hồ nghi tình cờ ghé qua thì chẳng ai lại nguyện lòng chọn lựa nơi này làm điểm dừng chân.
Khác hẳn với cái tên của nó (với tôi thì “Cá heo” là một từ lóng gợi lên vẻ đẹp tinh khổi như kẹo đường của một khách sạn nằm bên bờ biển Aegean), nếu không phải vì có biển hiệu treo trước cửa thì bạn sẽ chẳng thể nào biết được tòa nhà này là một khách sạn. Thậm chí kể cả có biển hiệu và tấm bảng bằng đồng treo trước lối vào thì trông nó cũng không ra dáng lắm. Tôi thấy nó giống nhà bảo tàng hơn. Một loại bảo tàng kỳ dị dành cho những vị khách với sự tò mò quái đản mà có thể sẽ ăn trộm những mẫu trưng bày kỳ lạ.
Điều này cũng không khác xa sự thật là bao nhiêu. Khách sạn này thực chất là một phần của viện bảo tàng. Nhưng như tôi đã hỏi đấy, ai lại chịu ở một khách sạn như thế này cơ chứ? Trong cái hòm kiêm phòng nghỉ, hành lang tối om bị chặn bởi những con cừu no căng và lông cừu ẩm mốc và đống tài liệu bị phủ đất và những tấm ảnh không màu? Những góc tường được nướng với những giấc mơ chưa thành sự thật? Đồ đạc ngả màu, những chiếc bàn lắc lư, ánh sáng đèn mờ ảo, bồn rửa mặt với cái nút khập khiễng, không giữ được nước. Cô hầu phòng béo ú sải chân trong hội trường một cách vụng về, húng hắng ho. Người chủ trung niên với ánh mắt buồn bã với bàn tay thiếu hai ngón, ngồi suốt sau bàn tiếp khách. Với một gã như vậy, chỉ cần nhìn thôi đã biết là chẳng ra làm sao cả. Thực sự là một điển hình của loại – được vớt lên trong đêm và nhúng vào một lớp mực xanh mỏng mảnh, tâm hồn được nhuộm màu xui xẻo, thất bại, gục ngã. Nếu bạn muốn đặt anh ta vào một cái hòm bằng thủy tinh và đưa anh ta tới lớp học khoa học của mình, thì đây: Homo nihilsuccessus
Hầu hết mọi người khi thấy anh chàng này đều thấy tinh thần mình ít nhiều bị nhụt đi. Sẽ không ít người tức giận (vài người chỉ cần nhìn thấy những điển hình khốn khổ của nhân loại là đủ bực bội rồi). Vậy thì ai mà lại ở cái khách sạn này kia chứ?
Điều gợi nhớ cho tôi là một ngõ cụt sinh học. Sự thoái hóa gen. Một tai nạn kỳ quái của tự nhiên đã khiến cho một số bộ phận cơ thể ở sai chỗ mà không thể sửa chữa được. Phương hướng tiến hóa bị phá hủy, một thể sống mồ côi bị bỏ lại, run rẩy sau tấm màn lịch sử, nơi Vùng-Đất-Bị-Thời-Gian-Quên-Lãng. Đó không phải là lỗi của bất kỳ ai. Không ai bị đổ lỗi, cũng không ai cứu giúp.
Khách sạn nhẽ ra không nên được xây tại nơi nó ngự trị. Đó là sai lầm đầu tiên, và theo đó mọi thứ trở nên tồi tệ hơn. Như thể cài nhầm một nút áo, tất cả mọi cố gắng để sửa chữa đều dẫn đến một đống lộn xộn khả quan, nếu không muốn nói là lịch lãm. Không một chi tiết nào có vẻ đúng đắn. Thử nhìn mọi thứ nơi này và bạn sẽ thấy mình phải nghiêng đầu một vài độ. Không đủ để gây cho bạn mối hại nào và cũng chẳng phải đặc biệt kỳ quặc gì. Ai mà biết được? Biết đâu bạn lại quen nhìn mọi thứ theo chiều nghiêng này (nhưng nếu bạn thực sự như thế thì bạn sẽ không bao giờ có thể nhìn ngắm thế giới một lần nữa với cái đầu để đúng vị trí).
Đó là khách sạn Cá heo. Nó thiếu vắng sự bình thường. Bối rối chất chồng cho tới khi đạt tới ngưỡng, định mệnh trong tương lai không xa bị cơn lốc thời gian nuốt chửng. Ai cũng có thể nhận ra ngay trong chớp mắt. Một chốn thảm hại, trông thiểu não như một con chó ba chân ướt sũng trong mưa tháng mười hai. Những khách sạn buồn rầu có mặt khắp nơi, có điều chắc chắn là Cá heo có một hạng riêng của mình. Khách sạn Cá heo là cả một khái niệm thương cảm. Khách sạn Cá heo đúng thật là bi kịch. Vậy nên chẳng cần phải nói, trừ những tâm hồn nghèo khổ và không chút hồ nghi tình cờ ghé qua thì chẳng ai lại nguyện lòng chọn lựa nơi này làm điểm dừng chân.
Khác hẳn với cái tên của nó (với tôi thì “Cá heo” là một từ lóng gợi lên vẻ đẹp tinh khổi như kẹo đường của một khách sạn nằm bên bờ biển Aegean), nếu không phải vì có biển hiệu treo trước cửa thì bạn sẽ chẳng thể nào biết được tòa nhà này là một khách sạn. Thậm chí kể cả có biển hiệu và tấm bảng bằng đồng treo trước lối vào thì trông nó cũng không ra dáng lắm. Tôi thấy nó giống nhà bảo tàng hơn. Một loại bảo tàng kỳ dị dành cho những vị khách với sự tò mò quái đản mà có thể sẽ ăn trộm những mẫu trưng bày kỳ lạ.
Điều này cũng không khác xa sự thật là bao nhiêu. Khách sạn này thực chất là một phần của viện bảo tàng. Nhưng như tôi đã hỏi đấy, ai lại chịu ở một khách sạn như thế này cơ chứ? Trong cái hòm kiêm phòng nghỉ, hành lang tối om bị chặn bởi những con cừu no căng và lông cừu ẩm mốc và đống tài liệu bị phủ đất và những tấm ảnh không màu? Những góc tường được nướng với những giấc mơ chưa thành sự thật? Đồ đạc ngả màu, những chiếc bàn lắc lư, ánh sáng đèn mờ ảo, bồn rửa mặt với cái nút khập khiễng, không giữ được nước. Cô hầu phòng béo ú sải chân trong hội trường một cách vụng về, húng hắng ho. Người chủ trung niên với ánh mắt buồn bã với bàn tay thiếu hai ngón, ngồi suốt sau bàn tiếp khách. Với một gã như vậy, chỉ cần nhìn thôi đã biết là chẳng ra làm sao cả. Thực sự là một điển hình của loại – được vớt lên trong đêm và nhúng vào một lớp mực xanh mỏng mảnh, tâm hồn được nhuộm màu xui xẻo, thất bại, gục ngã. Nếu bạn muốn đặt anh ta vào một cái hòm bằng thủy tinh và đưa anh ta tới lớp học khoa học của mình, thì đây: Homo nihilsuccessus
Hầu hết mọi người khi thấy anh chàng này đều thấy tinh thần mình ít nhiều bị nhụt đi. Sẽ không ít người tức giận (vài người chỉ cần nhìn thấy những điển hình khốn khổ của nhân loại là đủ bực bội rồi). Vậy thì ai mà lại ở cái khách sạn này kia chứ?
Thứ Bảy, 28 tháng 11, 2009
Dance Dance Dance - Murakami Haruki
Paper.jpg)
Khiêu vũ, khiêu vũ, khiêu vũ Haruki Murakami
Bản dịch tiếng Việt do Mèo ngu thực hiện, dựa trên bản dịch tiếng Anh của Alfred Birnbaum
Đây là bản dịch vì mục đích ngưỡng mộ tác giả thuần túy, khuyến khích các bạn mua bản dịch có bản quyền để ủng hộ tác giả.
1.
Tôi thường mơ về khách sạn Cá heo. Trong những cơn mơ, tôi ở đó, tham gia vào một sự kiện đang diễn ra nào đó. Tất cả những dấu hiệu đều chỉ ra rằng tôi thuộc về sự liên tục của giấc mơ này.
Khách sạn Cá heo méo mó và chật chội. Nó trông như thể một cái cầu dài bị che phủ. Một cái cầu được nối dài bất tận qua năm tháng. Và thế là tôi ở đó, ngay giữa cầu. Ai đó cũng có mặt ở đó, khóc lóc.
Khách sạn bao bọc lấy tôi. Tôi có thể cảm nhận thấy mạch đập và nhiệt độ của nó. Trong cơn mơ, tôi là một phần của khách sạn.
Tôi tỉnh giấc, nhưng ở đâu mới được chứ? Tôi chỉ không nghĩ rằng, tôi thực sự tự hỏi : “Mình đang ở đâu vậy nhỉ?” Cứ như thể tôi không biết rằng: Tôi đang ở đây. Trong cuộc đời của mình. Một phần cuộc sống này là sự tồn tại của tôi. Chẳng phải tôi đặc biệt hồi tưởng rằng mình từng chấp thuận những vấn đề này, tình trạng này hay những mối quan tâm này. Hình như có một người phụ nữ ngủ cạnh tôi. Nhưng thường xuyên hơn, tôi chỉ có một mình. Chỉ có mình tôi và đường cao tốc chạy ngay cạnh căn hộ của tôi, và cạnh giường, một cái ly ( vẫn còn 5 milimet whiskey trong đó) và ánh mặt trời bụi bặm, ác độc, à không phải là thờ ơ chứ. Thỉnh thoảng trời mưa. Nếu là như vậy thì tôi sẽ chỉ nằm lỳ trên giường. Và nếu vẫn còn whiskey trong ly, tôi sẽ uống. Và tôi sẽ nhìn qua làn mưa rơi từ mái hiên, lại nghĩ về khách sạn Cá heo. Có thể tôi sẽ vươn mình, nhẹ nhàng và chậm rãi. Đủ để tôi chắc chắn bản thân mình không phải là một phần của thứ gì khác. Vậy mà tôi vẫn nhớ cảm giác của giấc mơ ấy. Da diết tới độ xin thề rằng tôi có thể vươn tay mà chạm vào nó, và toàn bộ những gì bao gồm cả tôi, sẽ chuyển động.
Nếu căng tai ra, tôi có thể nghe thấy phần tiếp theo của vở kịch chậm rãi và thận trọng diễn ra, như những giọt nước đang rơi xuống, từng giọt từng giọt một, hết giọt này đến giọt khác, buông mình vào một trò xếp hình phức tạp. Tôi lắng nghe thật kỹ. Đó là khi tôi nghe thấy tiếng ai đó đang khóc khẽ khàng tới mức gần như không hiện hữu,. Tiếng thổn thức vang lên từ đâu đó trong đêm tối. Ai đó đang khóc than cho tôi.
Khách sạn Cá heo có thực. Thật ra nó tọa lạc trong một khu vực tầm tầm của Sapporo. Vài năm về trước, tôi đã nghỉ 1 tuần tại đấy. À không, cho phép tôi đính chính. Đã bao năm rồi nhỉ? Bốn. Hoặc chính xác là lâu hơn thế, bốn năm rưỡi. Hồi tôi vẫn còn ở độ tuổi hai mươi của mình. Tôi đăng ký phòng tại khách sạn Cá heo với người phụ nữ sống cùng tôi. Cô ấy là người chọn địa điểm này. Chúng mình sẽ nghỉ tại đây, cô ấy nói vậy đấy. Nếu không phải vì cô ấy thì tôi ngờ rằng mình sẽ chẳng đời nào bước chân vào chốn ấy.
Đó là một khách sạn vừa nhỏ vừa thấp. Trong suốt quãng thời gian chúng tôi nghỉ tại đó, tôi không biết liệu chúng tôi có nhìn thấy khách thuê phòng nào không. Có một vài người la cà ở hành lang nhưng ai mà biết được họ có ở lại đó không? Tôi để ý thấy thiếu một số chìa khóa phòng trên tấm bảng sau quầy tiếp khách, vậy là trong khách sạn này còn có những vị khách khác. Tuy nhiên không nhiều. Ý tôi là, thật sự là khi bạn treo một tấm biển quảng cáo khách sạn trong một thành phố lớn, đăng số điện thoại trong niên giám kinh doanh nghĩa là bạn sẽ không chịu cảnh hoàn toàn ế khách. Nhưng kể cả là khi có những vị khách khác ngoài chúng tôi thì họ cũng yên lặng một cách kinh khủng. Chúng tôi chưa từng nghe họ gây ra bất cứ tiếng động nào và hầu như không thấy bất kỳ dấu hiệu nào về sự hiện diện của họ - trừ vị trí của chìa khóa phòng trên bảng thay đổi chút ít mỗi ngày. Liệu có phải họ như những chiếc bóng, nhịn thở mà trườn trên tường dọc theo hành lang? Thỉnh thoảng chúng tôi nghe thấy tiếng ồn của thang máy nhưng khi thang máy dừng, bầu không khí im lặng lại càng trở nên ngột ngạt hơn.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)